Nhận lời mời của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin, Tổng
Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm thực hiện chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên
bang Nga từ ngày 7-9/9/2026.
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ
tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đã hội đàm hẹp và hội đàm
rộng với Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin; gặp Thủ tướng Chính phủ Liên
bang Nga M.V. Mishustin, Chủ tịch Hội đồng Liên bang của Quốc hội Liên bang Nga
V.I. Matviyenko, Chủ tịch Duma Quốc gia của Quốc hội Liên bang Nga V.V.
Volodin, Chủ tịch chính đảng toàn Nga "Nước Nga Thống nhất," Phó Chủ
tịch Hội đồng An ninh Liên bang Nga D.A. Medvedev, Trợ lý Tổng thống, Chủ tịch
Hội đồng Biển Liên bang Nga N.P. Patrushev, Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương
Đảng Cộng sản Liên bang Nga G.A. Zyuganov.
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ
tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm đặt hoa tại Quảng trường
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đài tưởng niệm Liệt sỹ vô danh; tiếp đại diện Hội Cựu
chiến binh và Hội hữu nghị Nga-Việt; tiếp lãnh đạo một số tập đoàn hàng đầu của
Nga.
Với sự có mặt của Tổng thống Putin và các nhà lãnh đạo cấp cao
hai nước, Quỹ Giải thưởng Hòa bình quốc tế mang tên Lev Tolstoy đã tổ chức trao
Giải thưởng năm 2026 cho Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm vì những đóng
góp to lớn vào sự nghiệp củng cố hòa bình và hợp tác giữa các dân tộc.
Các cuộc hội đàm và gặp gỡ diễn ra trong bầu không khí hữu nghị
truyền thống, chân thành và tin cậy vốn có trong quan hệ giữa hai nước. Lãnh
đạo Việt Nam và Nga đã trao đổi sâu rộng về tình hình và triển vọng quan hệ
Việt Nam-Nga, đồng thời thống nhất các biện pháp tiếp tục thúc đẩy quan hệ Đối
tác chiến lược toàn diện giữa hai nước.
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ
tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đánh giá cao những thành tựu của
Liên bang Nga trong phát triển kinh tế, bảo đảm phúc lợi cho người dân và nâng
cao uy tín của đất nước trên trường quốc tế.
Tổng thống Liên bang Nga ghi nhận những thành tựu ấn tượng trong
phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam và sự tham gia tích cực của Việt Nam vào
việc giải quyết các vấn đề khu vực và toàn cầu, tin tưởng dưới sự lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, Việt Nam
sẽ tiếp tục thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược phát triển đất nước đã
được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam thông
qua.
Trên cơ sở kết quả chuyến thăm, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam và Liên bang Nga tuyên bố như sau:
Cơ sở, nguyên tắc và
mục tiêu phát triển quan hệ
1. Quan hệ giữa Việt Nam và Nga được thiết lập từ năm 1950 với
đặc trưng của tình hữu nghị anh em, sự tin cậy sâu sắc và tinh thần sẵn sàng
giúp đỡ lẫn nhau. Những phẩm chất đó được thể hiện đặc biệt rõ nét trong những
năm tháng nhân dân Việt Nam anh hùng tiến hành cuộc đấu tranh giải phóng dân
tộc, bảo vệ độc lập, tự do. Năm 2001, hai nước thiết lập quan hệ Đối tác chiến
lược và năm 2012 nâng cấp lên Đối tác chiến lược toàn diện.
2. Hai bên khẳng định quan hệ hữu nghị truyền thống và Đối tác
chiến lược
toàn diện Việt Nam-Nga đã được thử thách qua thời gian và đứng vững trước mọi
biến động của thời đại, là tài sản quý báu của nhân dân hai nước; việc củng cố
và phát triển quan hệ song phương là lựa chọn chiến lược lâu dài và một trong
những ưu tiên trong chính sách đối ngoại của mỗi nước.
3. Dựa trên những thành tựu đã đạt được, với mong muốn phát huy
tiềm năng hiện có và kinh nghiệm hợp tác phong phú trong nhiều lĩnh vực, Việt
Nam và Nga sẽ tiếp tục nỗ lực tăng cường và đa dạng hóa các lĩnh vực hợp tác vì
lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định ở khu vực châu Á-Thái Bình
Dương và trên thế giới.
4. Việt Nam và Nga xây dựng quan hệ trên cơ sở tin cậy lẫn nhau,
tầm nhìn lâu dài và hiệu quả hợp tác trong các lĩnh vực, phối hợp chiến lược
sâu rộng giữa hai nước, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế
và
Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, quyết tâm hợp tác
chặt chẽ trên tất cả các lĩnh vực trong khuôn khổ song phương và đa phương.
5. Hai bên nhất trí phát triển quan hệ Đối tác chiến lược toàn
diện Việt Nam-Nga trong giai đoạn mới với độ tin cậy chính trị và chiến lược
cao, có nền tảng kinh tế, thương mại, đầu tư cân bằng và bền vững; lấy hợp tác
quốc phòng-an ninh là trụ cột chiến lược, coi năng lượng-dầu khí là đột phá
chiến lược, lấy khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực làm các
động lực chính, lấy văn hóa, giao lưu nhân dân là nhịp cầu kết nối hai dân tộc,
có khả năng thích ứng trước biến động của tình hình quốc tế và mang lại lợi ích
cụ thể cho người dân, địa phương và doanh nghiệp hai nước.
Những
phương hướng chính trong hợp tác song phương
Chính trị-ngoại giao
6. Hai bên khẳng định coi quan hệ chính trị tin cậy ở mức cao là
nền tảng cốt lõi và vững chắc để triển khai hợp tác toàn diện trên các lĩnh vực
khác, tiếp tục đối thoại chính trị thường xuyên và thực chất thông qua trao đổi
đoàn và tiếp xúc cấp cao và các cấp trên tinh thần tin cậy, xây dựng, góp phần
thúc đẩy quan hệ song phương phát triển vững chắc, thực hiện các thỏa thuận đã
đạt được và xác định những nội dung, lĩnh vực hợp tác mới có triển vọng.
7. Hai bên thống nhất đẩy mạnh hợp tác giữa các chính Đảng thông
qua trao đổi đoàn và hợp tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trao đổi chuyên gia,
hợp tác nghiên cứu và giáo dục chính trị-tư tưởng cho thanh niên, quảng bá các
giá trị văn hóa, di sản văn học, nghệ thuật tiêu biểu của hai nước.
8. Hai bên tiếp tục tăng cường hợp tác nghị viện thông qua việc
duy trì trao đổi đoàn và tiếp xúc giữa lãnh đạo các cơ quan lập pháp hai nước,
phát huy các cơ chế hợp tác hiện có, tăng cường giám sát việc thực hiện các
điều ước quốc tế, thỏa thuận và cam kết cấp cao; phối hợp hoàn thiện khuôn khổ
pháp lý, tạo thuận lợi cho các dự án hợp tác trọng điểm trong các lĩnh vực
chiến lược; đẩy mạnh hợp tác giữa các ủy ban và các nhóm nghị sỹ hữu nghị của
Quốc hội hai nước, tiếp tục phối hợp tham vấn và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn
đàn liên nghị viện quốc tế và khu vực.
Quốc phòng-an ninh
9. Hai bên khẳng định hợp tác quốc phòng-an ninh là một trụ cột
chiến lược của quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, và nhấn mạnh sự hợp tác
này không nhằm chống lại nước thứ ba và hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc
tế. Hai bên đánh giá cao những đóng góp quan trọng của Việt Nam và Nga đối với
hoà bình, ổn định toàn cầu, trong đó có việc Việt Nam tham gia vào các hoạt
động gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc, cũng như ứng phó thảm hoạ, tìm kiếm,
cứu hộ, cứu nạn để xử lý các thảm hoạ thiên nhiên.
10. Hai bên nhất trí đẩy mạnh trao đổi đoàn các cấp, nhất là cấp
cao nhằm triển khai, phát huy hiệu quả các văn bản hợp tác đã ký kết và các cơ
chế hiện có, tăng cường hợp tác quân, binh chủng, rà phá bom mìn nhân đạo, bảo
đảm an ninh biển và an toàn hàng hải, đẩy mạnh hợp tác đào tạo cán bộ và chuyên
gia chất lượng cao, mở rộng hợp tác khoa học kỹ thuật và công nghệ quân sự.
11. Hai bên chủ trương tăng cường hợp tác chống chủ nghĩa cực
đoan và quá trình cực đoan hóa, nhất là trong thế hệ trẻ. Trong bối cảnh đó,
hai bên nhấn mạnh cần tăng cường phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền hai
nước, trong đó có việc tăng cường trao đổi kinh nghiệm.
12. Trên cơ sở Hiệp định liên Chính phủ về hợp tác bảo đảm an
ninh thông tin quốc tế ngày 6/9/2018, hai bên sẽ tiếp tục nỗ lực phối hợp nhằm
ngăn chặn việc sử dụng công nghệ thông tin-truyền thông vào các mục đích khủng
bố, cực đoan và những hành vi phạm tội khác, cũng như can thiệp vào công việc
nội bộ và xâm phạm chủ quyền của các quốc gia, tăng cường chia sẻ thông tin,
kinh nghiệm chống lại âm mưu, ý đồ và các hoạt động can thiệp, tác động nội bộ,
thể chế, chính sách, pháp luật của các thế lực thù địch, cơ quan đặc biệt nước
ngoài.
Hai bên chủ trương tăng cường hợp tác thực chất trong lĩnh vực
công nghệ thông tin-truyền thông, bao gồm thúc đẩy sáng kiến thành lập Trung
tâm phòng, chống tội phạm mạng khu vực châu Á-Thái Bình Dương dưới sự bảo trợ
của Văn phòng Liên hợp quốc về chống ma túy và tội phạm; nhấn mạnh tầm quan
trọng của việc xây dựng các quy phạm phổ quát có giá trị ràng buộc pháp lý dưới
sự bảo trợ của Liên hợp quốc để hình thành hệ thống an ninh thông tin quốc tế
công bằng và bình đẳng; hoan nghênh thành công của Lễ mở ký Công ước Liên hợp
quốc về chống tội phạm mạng ngày 25-26/10/2025 và ủng hộ việc Công ước sớm có
hiệu lực.
Hai bên sẵn sàng mở rộng hợp tác trong phòng, chống tội phạm
dưới mọi hình thức và biểu hiện, bao gồm tội phạm sử dụng công nghệ thông tin -
truyền thông; tiếp tục hợp tác giữa các cơ quan thực thi pháp luật của hai
nước.
Kinh tế-thương mại
13. Hai bên tiếp tục đặc biệt quan tâm phát triển hợp tác kinh
tế-thương mại; phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trong khuôn khổ Ủy ban liên Chính
phủ về hợp tác kinh tế-thương mại và khoa học-kỹ thuật, các tiểu ban và nhóm
công tác trực thuộc nhằm triển khai Kế hoạch tổng thể phát triển hợp tác Việt
Nam-Nga đến năm 2030 cùng các thỏa thuận hợp tác chung khác, nhằm gia tăng kim
ngạch thương mại song phương, trong đó thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác như khoa
học-công nghệ, bao gồm trí tuệ nhân tạo (AI), kinh tế số, năng lượng xanh, kinh
tế biển và ứng phó với biến đổi khí hậu.
14. Hai bên tiếp tục khai thác những lợi thế của Hiệp định
thương mại tự do giữa Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các quốc gia thành
viên Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU); thúc đẩy tháo gỡ các hạn chế trong thương
mại song phương; hỗ trợ các nhà xuất khẩu và nhà đầu tư hai nước; tăng cường
phối hợp hiệu quả trong lĩnh vực tài chính-ngân hàng, sản xuất công nghiệp,
nông nghiệp và công nghệ thông tin-truyền thông, bao gồm AI.
15. Việt Nam khuyến khích Nga đầu tư vào các dự án có giá trị
gia tăng cao, gắn với chuyển giao công nghệ, đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân
lực. Nga nghiên cứu triển vọng mở rộng đầu tư tại Việt Nam trong các lĩnh vực
như năng lượng (bao gồm năng lượng tái tạo), công nghiệp chế biến chế tạo, kinh
tế tuần hoàn, công nghệ thông tin-truyền thông, logistics, xây dựng hạ tầng,
nông nghiệp công nghệ cao, dược phẩm, y tế, du lịch và văn hóa. Nga hỗ trợ
doanh nghiệp Việt Nam đầu tư tại Nga trong các lĩnh vực dệt may, sản xuất hàng
tiêu dùng và đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ, du lịch.
Nhiên liệu-năng lượng
16. Hai bên coi
hợp tác trong lĩnh vực nhiên liệu-năng lượng là đột phá chiến lược của quan hệ
Việt Nam-Nga, góp phần bảo đảm an ninh năng lượng cho cả hai nước. Trên cơ sở
đó, hai bên nhất trí nâng cao hiệu quả các dự án đang được triển khai và tiếp
tục mở rộng hợp tác trong lĩnh vực dầu khí tại Việt Nam và Nga, phù hợp với
pháp luật của hai nước và luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên hợp quốc về
Luật Biển năm 1982.
Hai bên sẽ đẩy
nhanh triển khai các hướng hợp tác có triển vọng liên quan đến việc cung cấp
dầu mỏ và khí tự nhiên hóa lỏng của Nga, cũng như xây dựng tại Việt Nam cơ sở
hạ tầng cần thiết để tiếp nhận, chế biến và dự trữ các sản phẩm hydrocarbon.
Hai bên tiếp tục
nghiên cứu khả năng các tổ chức Nga tham gia hiện đại hóa các nhà máy điện đang
hoạt động tại Việt Nam và xây dựng các nguồn phát điện mới, bao gồm các nhà máy
điện gió ngoài khơi.
17. Hai bên ghi
nhận việc ký kết tại Moskva ngày 23/3/2026 Hiệp định liên Chính phủ về hợp tác
xây dựng nhà máy điện hạt nhân trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
đã mở ra một trang mới trong quan hệ Việt Nam-Nga. Việc xây dựng và vận hành
nhà máy, trên cơ sở ưu tiên tuyệt đối an toàn hạt nhân và bức xạ, áp dụng những
kinh nghiệm tốt nhất của Nga, với tiến độ triển khai và tỷ lệ nội địa hóa được
hai bên chấp nhận, đồng thời bảo đảm hiệu quả kinh tế, sẽ giúp cung cấp điện ổn
định, đào tạo đội ngũ chuyên gia Việt Nam có trình độ cao, tạo việc làm và động
lực tổng thể cho phát triển kinh tế-xã hội và phát triển công nghệ của Việt
Nam.
Hai bên tiếp tục
triển khai dự án xây dựng Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ hạt nhân
tại Việt Nam - một công trình hợp tác quan trọng trong lĩnh vực sử dụng năng
lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình.
Giao thông-vận
tải
18. Hai bên
khẳng định quan tâm phát triển hợp tác chặt chẽ trong lĩnh vực giao thông-vận
tải, bao gồm xây dựng hệ thống tàu điện ngầm tại Việt Nam, hiện đại hóa đường
sắt, đẩy mạnh khai thác vận tải đa phương thức Việt Nam-Trung Quốc-Nga bằng
đường sắt kết hợp đường biển, nghiên cứu khả năng tham gia Sáng kiến Hành lang
vận tải quốc tế Bắc-Nam, khả năng hợp tác sử dụng tuyến vận tải đường biển
phương Bắc.
19. Hai bên sẽ
mở rộng hợp tác giữa Hội đồng Biển Liên bang Nga với các bộ, ngành hữu quan của
Việt Nam trong lĩnh vực biển, bao gồm vận tải biển thương mại, đóng tàu, phát
triển hạ tầng cảng biển, đào tạo nhân lực, nghiên cứu khoa học về biển và bảo
vệ các hệ sinh thái biển.
Công nghiệp và
nông nghiệp
20. Hai bên tạo
điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư của Việt Nam và Nga hoạt động và triển
khai các dự án trong lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp trên lãnh thổ hai
nước.
21. Hai bên nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường hợp tác trong lĩnh vực nông, lâm, ngư
nghiệp, bao gồm gia tăng cung ứng các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao và
thúc đẩy đưa các sản phẩm này vào thị trường mỗi nước; khuyến khích doanh
nghiệp hai nước thành lập các doanh nghiệp liên doanh chuyên ngành.
Khoa học-công
nghệ, giáo dục-đào tạo và y tế
22. Hai bên
khẳng định tiếp tục hợp tác trong lĩnh vực khoa học và công nghệ, giáo dục và
đào tạo nhân lực; đánh giá cao các hoạt động được tổ chức trong năm 2026 trong
khuôn khổ Năm hợp tác Nga-Việt Nam về khoa học và giáo dục.
23. Hai bên nhất
trí thúc đẩy vai trò trụ cột của lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số; tăng cường hợp tác nghiên cứu chung, đặc biệt trong lĩnh vực
năng lượng nguyên tử vì mục đích hòa bình, công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, công
nghệ sinh học, vật liệu mới, năng lượng và tự động hóa, nông nghiệp công nghệ
cao, thống nhất thúc đẩy hợp tác trong chuyển giao công nghệ.
24. Phía Việt
Nam bày tỏ cảm ơn Chính phủ Liên bang Nga hàng năm cấp chỉ tiêu đào tạo công
dân Việt Nam theo nhiều chuyên ngành có nhu cầu cao và cần thiết cho phát triển
kinh tế của Việt Nam, trong đó ưu tiên các ngành về công nghệ chiến lược,
nghiên cứu cơ bản, công nghệ lượng tử, năng lượng hạt nhân và các ngành bổ trợ.
Hai bên sẽ tăng
cường trao đổi chuyên gia, nhà khoa học, hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi để
phát triển quan hệ giữa các trường đại học, viện nghiên cứu, cũng như thúc đẩy
quan hệ giữa các doanh nghiệp công nghệ trong trao đổi, nghiên cứu, phát triển
và ứng dụng công nghệ phục vụ phát triển; chuyển sang mô hình "đào tạo gắn
với dự án," Nga cử chuyên gia sang đào tạo, bồi dưỡng các khóa ngắn hạn về
văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao của Việt Nam.
Hai bên nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc học tập và giảng dạy tiếng Nga tại Việt Nam, tiếng
Việt tại Nga; nhất trí đẩy nhanh việc đưa tổ chức giáo dục "Trung tâm tiếng
Nga mang tên Pushkin" tại Hà Nội vào hoạt động, thúc đẩy thành lập cơ sở
giáo dục của Nga tại Việt Nam do Chính phủ Nga đầu tư xây dựng và quản lý phù
hợp với pháp luật của hai nước.
25. Hai bên ghi
nhận tầm quan trọng của việc tiếp tục hỗ trợ hoạt động của Trung tâm Nhiệt đới
Việt-Nga trong triển khai các nghiên cứu ứng dụng, nghiên cứu cơ bản và nghiên
cứu biển, bao gồm sử dụng tàu nghiên cứu khoa học "Viện sỹ
Gagarinsky" do Liên bang Nga chuyển giao không hoàn lại vào năm 2025.
26. Hai bên
khẳng định chuyến bay đầu tiên của con người vào vũ trụ cách đây 65 năm, ngày
12/4/1961, do công dân Liên Xô Yuri Alekseyevich Gagarin thực hiện, là một bước
đột phá mang tầm văn minh nhân loại, mở ra cho loài người những triển vọng chưa
từng có.
Hai bên ủng hộ
việc sử dụng các hệ thống vũ trụ, cơ sở hạ tầng mặt đất liên quan cùng những
thành tựu của khoa học, công nghệ và dịch vụ vũ trụ chỉ để phục vụ mục đích hòa
bình và phục vụ phát triển bền vững, bao gồm giám sát biến đổi khí hậu, phòng
ngừa và khắc phục hậu quả các tình huống khẩn cấp, sử dụng hợp lý tài nguyên
thiên nhiên, phát triển nông nghiệp, giao thông vận tải, thông tin liên lạc và
chuyển đổi số.
27. Hai Bên bày
tỏ sẵn sàng tăng cường hợp tác y tế, mở rộng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ trong
lĩnh vực y tế, dược phẩm, tiến hành nghiên cứu khoa học chung, hội nghị và trao
đổi chuyên gia trong các chuyên ngành, hỗ trợ các dự án chung giữa các tổ chức
nghiên cứu khoa học và công ty dược phẩm Việt Nam và Nga, thúc đẩy đầu tư vào
nghiên cứu, phát triển và sản xuất chung dược phẩm và công nghệ y sinh, tăng
cường đối thoại giữa các cơ quan quản lý hai nước về dược phẩm, kiểm nghiệm,
nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cùng có lợi, nâng cao khả năng
tiếp cận của hệ thống y tế đối với các loại thuốc hiện đại có nhu cầu cao,
trong đó xem xét khả năng sử dụng các kết quả đã được Liên bang Nga và EAEU cấp
phép trong quá trình đánh giá hồ sơ đăng ký thuốc lưu hành tại Việt Nam và
ngược lại, phù hợp với pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế mà Việt Nam
là thành viên tham gia ký kết.
Hợp tác nhân văn
28. Hai bên nhất
trí triển khai hiệu quả Chương trình hợp tác văn hóa giai đoạn 2025-2027, tiến
hành thường xuyên các Ngày Văn hóa và Lễ hội văn hóa, Tuần phim hai nước; phối
hợp tổ chức "Mùa văn hóa Nga tại Việt Nam" trong năm 2027; thúc đẩy
sớm thành lập Trung tâm văn hóa Việt Nam tại Nga.
29. Hai bên tiếp
tục hợp tác trong lĩnh vực thể dục, thể thao; phản đối việc chính trị hóa thể
thao và sử dụng các sự kiện thể thao lớn làm công cụ phân biệt đối xử đối với
các vận động viên; thúc đẩy hợp tác thể thao quốc tế bình đẳng dựa trên các
nguyên tắc của phong trào Olympic.
30. Việt Nam và
Nga ủng hộ thúc đẩy mở rộng hợp tác lao động, tăng cường trao đổi khách du lịch
giữa hai nước thông qua việc gia tăng số lượng các chuyến bay thẳng thường lệ
và thuê chuyến; đơn giản hóa thủ tục xuất nhập cảnh đối với công dân Việt Nam
nhập cảnh Nga, hướng tới áp dụng chế độ miễn thị thực cho người mang hộ chiếu
phổ thông, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch; tổ chức hội nghị, triển lãm,
diễn đàn và các sự kiện khác nhằm xúc tiến du lịch.
Hai bên khẳng
định tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi cho công dân Việt Nam sinh sống, làm việc
và học tập tại Nga cũng như công dân Nga sinh sống, làm việc và học tập tại
Việt Nam.
31. Hai bên hoan
nghênh việc mở rộng trao đổi trong lĩnh vực nhân văn; duy trì và phát triển
quan hệ giữa các cơ quan báo chí hàng đầu, các hội nhà báo, cơ quan lưu trữ,
các hội hữu nghị và các tổ chức xã hội khác; ủng hộ gìn giữ bản sắc dân tộc, sự
đa dạng văn hóa-văn minh và bảo vệ các giá trị truyền thống.
32. Hai bên dự
định tăng cường hợp tác trong lĩnh vực thông tin nhằm quảng bá hình ảnh khách
quan về hai nước và những thông tin về quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện
Việt Nam-Nga trên không gian truyền thông toàn cầu; đẩy mạnh hợp tác báo chí,
truyền thông; phối hợp trong xử lý các thông tin sai lệch về quan hệ hai nước,
trong đó có việc sử dụng các công cụ phù hợp để chống lại việc lan truyền thông
tin sai lệch và các chiến dịch truyền thông của bên thứ ba.
33. Hai bên sẽ
tạo điều kiện phát huy tiềm năng hợp tác giữa các địa phương trong khuôn khổ
song phương và đa phương, bao gồm tổ chức Diễn đàn hợp tác địa phương Nga-Việt
Nam, nhằm tăng cường quan hệ giữa hai nước trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội,
văn hóa-nhân văn và các lĩnh vực khác, đồng thời góp phần xây dựng không gian
đối thoại chung tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Những phương
hướng chính trong hợp tác quốc tế
34. Hai bên kiên
trì khẳng định các kết quả của Chiến tranh thế giới thứ hai đã được ghi nhận
trong Hiến chương Liên hợp quốc; phản đối những âm mưu xuyên tạc và làm sai
lệch lịch sử Chiến tranh thế giới thứ hai; nhấn mạnh tầm quan trọng của việc
giáo dục lòng yêu nước, bảo đảm sự kế thừa giữa các thế hệ và gìn giữ ký ức về
cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa quốc xã, chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quân
phiệt.
Hai bên cùng coi
trọng việc gìn giữ và trân trọng lịch sử chung của hai nước.
Hai bên ủng hộ hình thành trật tự thế giới đa cực công bằng và bền vững hơn,
trên cơ sở các quốc gia tuân thủ đầy đủ và không tách rời các nguyên tắc, quy
phạm được thừa nhận rộng rãi của luật pháp quốc tế; mở rộng không gian và cơ
hội để các quốc gia hợp tác cùng có lợi, công bằng và tôn trọng lẫn nhau. Hai
bên nhất trí khẳng định mọi quốc gia có quyền tự quyết định mô hình phát triển,
thể chế chính trị, kinh tế và xã hội phù hợp với điều kiện đất nước và nguyện
vọng của nhân dân.
35. Hai bên
không ủng hộ việc áp dụng những biện pháp cưỡng chế đơn phương không phù hợp
với luật pháp quốc tế và không được Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc phê chuẩn;
đồng thời không ủng hộ việc tạo ra những ranh giới chia rẽ vì lý do ý thức hệ.
Hai bên khẳng
định cần nghiêm chỉnh tuân thủ nguyên tắc bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia
và những nghĩa vụ quốc tế liên quan đến quyền miễn trừ của quốc gia và tài sản
quốc gia, bao gồm các khoản dự trữ quốc gia; không ủng hộ những sáng kiến liên
quan đến việc phong tỏa, sử dụng hoặc tịch thu tài sản của các quốc gia nước
ngoài.
36. Hai bên bày
tỏ quyết tâm tăng cường phối hợp trong khuôn khổ Liên hợp quốc, bao gồm Đại hội
đồng Liên hợp quốc; không ủng hộ việc chính trị hóa hoạt động của các tổ chức
chuyên môn thuộc hệ thống Liên hợp quốc và những cơ cấu quốc tế khác; bảo vệ
vai trò điều phối trung tâm của Liên hợp quốc trong bảo đảm hòa bình, an ninh
và phát triển bền vững.
Hai bên ủng hộ
việc nâng cao hiệu quả hoạt động, dân chủ hóa và cải tổ Liên hợp quốc; tiếp tục
hợp tác chặt chẽ trong khuôn khổ Liên hợp quốc và các cơ chế đa phương khác; hỗ
trợ lẫn nhau trong các cuộc bầu cử vào các tổ chức quốc tế và các cơ quan điều
hành của các tổ chức này.
37. Hai bên ủng
hộ sự hợp tác cùng có lợi giữa các quốc gia trong khuôn khổ UNESCO nhằm phát
triển quan hệ trong các lĩnh vực giáo dục, khoa học, văn hóa, thể thao, thông
tin và truyền thông; khẳng định quyết tâm chung tăng cường năng lực của UNESCO
với tư cách là diễn đàn liên Chính phủ mang tính nhân văn và phổ quát, duy trì
đối thoại đa phương chuyên nghiệp và tôn trọng lẫn nhau.
38. Hai bên sẵn
sàng thúc đẩy các nỗ lực của cộng đồng quốc tế để ứng phó với những thách thức
an ninh truyền thống và mới nổi, bao gồm chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa cực đoan
và xu hướng cực đoan hóa, tội phạm xuyên quốc gia, xung đột vũ trang, hoạt động
sản xuất và buôn bán trái phép chất ma túy, chất hướng thần và tiền chất ma
túy, kích động đảo chính từ bên ngoài, biến đổi khí hậu, thiên tai và dịch
bệnh.
39. Hai bên sẽ
nỗ lực bảo đảm an ninh thông tin, an ninh lương thực và thực hiện hiệu quả
Chương trình nghị sự về phát triển bền vững đến năm 2030.
40. Hai bên ủng
hộ những nỗ lực xây dựng cấu trúc bao trùm, mở và minh bạch về an ninh bình
đẳng và không chia tách tại khu vực Á-Âu trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế
và Hiến chương Liên hợp quốc, loại bỏ những nguyên nhân của xung đột và bất
đồng, bảo đảm hòa bình, ổn định, phát triển và lợi ích chính đáng của tất cả
các quốc gia Á-Âu. Để đạt được các mục tiêu này, hai bên kêu gọi tăng cường hợp
tác song phương và đa phương thông qua đối thoại và phối hợp hành động.
Hai bên ghi nhận
sáng kiến xây dựng Hiến chương Á-Âu về đa dạng và đa cực trong thế kỷ XXI.
41. Hai bên ủng
hộ các nỗ lực quốc tế về kiểm soát vũ khí, giải trừ quân bị và không phổ biến
vũ khí hủy diệt hàng loạt nhằm xây dựng một thế giới không có những loại vũ khí
này và an toàn hơn đối với tất cả các quốc gia.
Hai bên nhấn
mạnh cần ngăn chặn cuộc chạy đua vũ trang trong không gian vũ trụ; ủng hộ sớm
khởi động đàm phán về một văn kiện quốc tế có giá trị ràng buộc pháp lý, dựa trên
dự thảo hiệp ước ngăn ngừa việc bố trí vũ khí trong không gian vũ trụ, sử dụng
vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực đối với các vật thể trong không gian; ủng hộ
tiếp tục thúc đẩy sáng kiến cam kết chính trị về việc không triển khai vũ khí
trước trong không gian vũ trụ.
42. Hai bên nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc tất cả các quốc gia thành viên tuân thủ đầy đủ,
hiệu quả và củng cố Công ước ngày 10/4/1972 về tiêu hủy và cấm phát triển, sản
xuất, tàng trữ và sử dụng vũ khí sinh học và độc tố; Công ước ngày 13/1/1993 về
cấm phát triển, sản xuất, tàng trữ, sử dụng và phá hủy vũ khí hóa học.
43. Hai bên cho
rằng cần tăng cường các nỗ lực của khu vực nhằm xây dựng tại châu Á-Thái Bình
Dương một cấu trúc bao trùm, mở và minh bạch về an ninh và hợp tác bình đẳng và
không chia tách, trên cơ sở luật pháp quốc tế, bao gồm các nguyên tắc không sử
dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết hòa bình các tranh chấp và
không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Hai bên phản đối các hành động
gây tổn hại tới việc tăng cường và mở rộng đối thoại khu vực.
44. Hai bên
khẳng định mong muốn tăng cường phối hợp trong khuôn khổ Diễn đàn Hợp tác kinh
tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) - một diễn đàn kinh tế chủ chốt tại khu vực
châu Á-Thái Bình Dương, hoạt động trên cơ sở phi chính trị hóa và không phân
biệt đối xử. Nga hoàn toàn ủng hộ Việt Nam tổ chức thành công Diễn đàn APEC năm
2027. Việt Nam hoan nghênh và ủng hộ đề nghị của Nga đăng cai Diễn đàn APEC năm
2035. Hai bên đề nghị các thành viên xem xét tích cực các đề nghị đăng cai,
trên cơ sở đồng thuận của APEC, để đảm bảo hoạt động liên tục, hiệu quả của
Diễn đàn.
45. Hai Bên
khẳng định tính toàn diện và thống nhất của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển
năm 1982, là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động trên biển và đại dương, giữ vai
trò nền tảng đối với phát triển hợp tác ở cấp quốc gia, khu vực và quốc tế;
đồng thời ghi nhận sự cần thiết duy trì tính toàn vẹn của Công ước. Hai Bên
nhất trí phối hợp hành động nhằm bảo đảm an ninh, an toàn và tự do hàng hải,
hàng không và thương mại; ủng hộ kiềm chế, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ
lực; giải quyết bất đồng bằng biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế
và Hiến chương Liên hợp quốc, bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm
1982.
Liên bang Nga
ủng hộ thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông
năm 2002; hoan nghênh những nỗ lực nhằm tạo dựng môi trường thuận lợi cho quá
trình đàm phán để thông qua Bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông hiệu quả, thực chất
và phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển
năm 1982.
46. Liên bang
Nga ủng hộ vai trò trung tâm của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á-ASEAN - trong
cấu trúc khu vực châu Á-Thái Bình Dương; đánh giá cao những ưu tiên và nguyên
tắc của Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á ngày 24/2/1976. Việt Nam và
Nga tham gia tích cực và mang tính xây dựng, phối hợp chặt chẽ trong các cơ chế
do ASEAN giữ vai trò trung tâm như Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn Khu
vực ASEAN (ARF) và Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+); tiếp
tục ủng hộ những sáng kiến quốc gia được đưa ra trong khuôn khổ các cơ chế này
và phù hợp với lợi ích chung.
Hai bên nhất trí
tăng cường và làm sâu sắc quan hệ Đối tác chiến lược Nga-ASEAN; thúc đẩy hợp
tác toàn diện, hiệu quả và cùng có lợi, bao gồm trong những lĩnh vực mà các bên
có tiềm năng và lợi thế đáng kể như năng lượng, thương mại và đầu tư, công nghệ
thông tin-truyền thông, chống khủng bố và tội phạm xuyên quốc gia, hợp tác quốc
phòng, hợp tác biển, khoa học và công nghệ, giáo dục, đào tạo cán bộ và nguồn
nhân lực.
Hai bên nhất trí
thúc đẩy triển khai hiệu quả Kế hoạch hành động toàn diện thực hiện quan hệ Đối
tác chiến lược Nga-ASEAN giai đoạn 2026-2030.
47. Hai bên ủng
hộ tăng cường hội nhập kinh tế khu vực và triển khai các sáng kiến kết nối liên
vùng, bao gồm dự án Đối tác Đại Á-Âu; đồng thời tăng cường hợp tác kinh tế giữa
ASEAN và EAEU, trong đó có việc thực hiện Chương trình hợp tác giữa Ủy ban Kinh
tế Á-Âu và ASEAN giai đoạn 2026-2030.
Hai bên sẽ thúc
đẩy mở rộng quan hệ giữa ASEAN và EAEU, cũng như ASEAN và Tổ chức hợp tác
Thượng Hải.
48. Nga đánh giá
cao lập trường cân bằng và khách quan của Việt Nam đối với cuộc khủng hoảng
Ukraine; hoan nghênh việc Việt Nam sẵn sàng tham gia các nỗ lực nhằm tìm kiếm
giải pháp chính trị-ngoại giao cho cuộc khủng hoảng và khôi phục ổn định khu
vực trên cơ sở tính đến những lợi ích an ninh chính đáng của tất cả các quốc
gia có chủ quyền.
Hà Nội và Moskva
cam kết tuân thủ luật pháp quốc tế và các nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp
quốc một cách toàn diện, đầy đủ và không tách rời của các nguyên tắc đó; nỗ lực
thúc đẩy giải quyết cuộc xung đột liên quan đến Ukraine trên cơ sở loại bỏ hoàn
toàn những nguyên nhâncủa cuộc xung đột nhằm tìm kiếm giải pháp hòa bình bền
vững. Hai bên bày tỏ quan ngại sâu sắc về thương vong dân thường và kêu gọi các
thành viên cộng đồng quốc tế kiềm chế cung cấp vũ khí cho khu vực xung đột.
49. Hai bên nhất
trí nghiên cứu khả năng thiết lập cơ chế Đối thoại biển song phương Việt
Nam-Nga nhằm tăng cường tin cậy và hiểu biết lẫn nhau, tạo cơ chế trao đổi
thường xuyên về các vấn đề trên biển và thúc đẩy hợp tác thực chất trong các
lĩnh vực hai bên cùng quan tâm.
50. Hai bên
khẳng định chuyến thăm cấp Nhà nước tới Liên bang Nga của
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với
việc thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện và phát triển hợp tác cùng
có lợi trong nhiều lĩnh vực.
Tổng Bí thư Ban
Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam Tô Lâm cảm ơn Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin về sự đón
tiếp trọng thị, thân tình và mời Tổng thống thăm lại Việt Nam.
Tổng thống Liên bang
Nga cảm ơn về lời mời.