Kết
luận số 107-KL/TW nêu rõ, tại phiên họp ngày 9/10/2026, xem xét Tờ trình số
103-TTr/BTCTW, ngày 8/10/2026 của Ban Tổ chức Trung ương về định hướng hoàn thiện
hệ thống vị trí việc làm trong hệ thống chính trị gắn với xây dựng đội ngũ cán
bộ và quản lý biên chế, Bộ Chính trị cơ bản thống nhất với Báo cáo và các đề xuất
của Ban Tổ chức Trung ương.
Bộ
Chính trị kết luận: Thời gian qua, việc xây dựng vị trí việc làm trong hệ thống
chính trị đã đạt một số kết quả bước đầu. Hệ thống văn bản, danh mục vị trí việc
làm, bản mô tả công việc và khung năng lực cơ bản được hình thành, từng bước phục
vụ công tác cán bộ và quản lý biên chế…
Tuy
nhiên, qua nhiều nhiệm kỳ, kết quả chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới; phương pháp
chưa thống nhất, dữ liệu còn phân tán, việc quản lý, sử dụng vị trí việc làm
chưa hiệu quả. Ở một số nơi, nhiệm vụ đã được phân cấp nhưng thẩm quyền và các
điều kiện bảo đảm (nhân lực, kinh phí, dữ liệu) chưa đồng bộ; tình trạng giao
thoa, chồng chéo nhiệm vụ chưa được khắc phục triệt để.
Tác
động của chuyển đổi số, cơ chế tự chủ, xã hội hóa và yêu cầu nâng cao chất lượng
đội ngũ cán bộ chưa được phản ánh đầy đủ trong xác định nhu cầu nhân lực và
phân bổ biên chế.
Từ
thực tiễn trên, yêu cầu đặt ra là chuyển mạnh từ quản lý theo danh mục vị trí,
số người, chỉ tiêu biên chế sang quản lý theo nhiệm vụ, công việc, sản phẩm, kết
quả và trách nhiệm; kế thừa nội dung đã được kiểm chứng, kịp thời khắc phục hạn
chế, bất cập.
Về
quan điểm,
Bộ Chính trị nhấn mạnh 5 cốt lõi: (1) Vị trí việc làm là nền tảng của quản trị
tổ chức, quản trị nhân lực trong hệ thống chính trị; là căn cứ xuyên suốt
để tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, đánh giá, sàng lọc, cơ cấu lại đội ngũ
cán bộ, quản lý biên chế và cải cách chính sách tiền lương.
Chuyển
mạnh từ quản lý theo số lượng người, biên chế ngạch bậc sang quản trị theo vị
trí việc làm, năng lực thực thi, kết quả và giá trị đóng góp; Phân định rõ việc
xác định vị trí việc làm, xác định nhu cầu nhân lực và quyết định giao biên chế;
gắn trách nhiệm với thẩm quyền và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
(2)
Hoàn thiện hệ thống vị trí việc làm gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của
Đảng, Kết luận số 76-KL/TW, yêu cầu vận hành mô hình tổ chức mới và chính quyền
địa phương 2 cấp; phân cấp, phân quyền phải gắn với phân định rõ nhiệm vụ,
trách nhiệm, bố trí nhân lực và bảo đảm điều kiện thực hiện, nâng cao hiệu
năng, hiệu lực, hiệu quả.
(3)
Kế thừa kết quả, dữ liệu, danh mục, bản mô tả công việc và khung năng lực đã
có, còn phù hợp và đã được kiểm chứng; tập trung rà soát thực chất, đề xuất điều
chỉnh, tích hợp hoặc loại bỏ vị trí không còn phù hợp, bổ sung vị trí mới khi
thực sự phát sinh nhiệm vụ, bảo đảm đúng thẩm quyền.
(4)
Đổi mới công tác quản lý, sử dụng và đãi ngộ cán bộ theo vị trí việc làm. Từng
bước đổi mới cơ chế đánh giá, chính sách tiền lương và đãi ngộ theo vị trí việc
làm, năng lực và kết quả công việc; khắc phục bình quân, cào bằng, coi trọng ngạch,
bậc, thâm niên hơn hiệu quả công việc.
(5)
Quản lý vị trí việc làm, nhu cầu nhân lực và biên chế trên cơ sở dữ liệu đầy đủ,
chính xác, thống nhất, liên thông, có nguồn gốc và được kiểm tra, xác nhận; tiếp
tục hoàn thiện phương pháp, tiêu chuẩn, định mức. Đề cao trách nhiệm trực tiếp
của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu đối với chất lượng dữ liệu và kết quả
thực hiện.
Về
nguyên tắc,
vị trí việc làm được xác định trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ
quan, tổ chức, đơn vị; gắn với nội dung công việc, sản phẩm, kết quả, trách nhiệm
và yêu cầu năng lực, đồng thời tính đến tác động của phân cấp, phân quyền, ứng
dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tự chủ và xã hội hóa.
Mỗi
vị trí gắn với một nhóm công việc tương đối ổn định, có sản phẩm và trách nhiệm
rõ ràng; không hình thành vị trí việc làm riêng chỉ do công đoạn, nhiệm vụ đột
xuất hoặc khác biệt về ngạch, bậc.
Thống
nhất nội dung mô tả cơ bản về nhiệm vụ, sản phẩm, thẩm quyền, quan hệ phối hợp
và yêu cầu năng lực; phù hợp đặc thù công tác Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc,
các tổ chức chính trị-xã hội và từng lĩnh vực chuyên ngành.
Phân
định rõ nhiệm vụ chủ trì, phối hợp và trách nhiệm giữa các cơ quan, các cấp; khắc
phục triệt để tình trạng giao thoa, chồng chéo, bỏ sót, trùng lặp; gắn phân cấp
với năng lực thực hiện, tăng cường kiểm tra, giám sát, hậu kiểm.
Rà
soát, điều chỉnh khi chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, mô hình tổ chức, phương
thức làm việc thay đổi; kế thừa nội dung còn phù hợp, không yêu cầu lập lại
toàn bộ hồ sơ.
Về
xác định nhu cầu nhân lực và quản lý biên chế, theo Kết luận, áp dụng phương
pháp phù hợp tính chất từng công việc để xác định nhu cầu nhân lực từ nhiệm vụ,
sản phẩm, khối lượng, tần suất, mức độ phức tạp, chất lượng, thời gian, địa
bàn, điều kiện thực hiện và năng lực cần thiết.
Đối
với công việc tham mưu, nghiên cứu, thẩm tra, giám sát và phục vụ các cơ quan
lãnh đạo, phải tính đến yếu tố đặc thù như tiến độ, trách nhiệm đối với sản phẩm,
nhiệm vụ đột xuất, công việc cao điểm và yêu cầu duy trì năng lực chuyên môn;
không áp dụng cơ học định mức giải quyết hồ sơ hành chính.
Không
đồng nhất một vị trí việc làm với một cá nhân hoặc một chỉ tiêu biên chế; không
tự động quy đổi nhu cầu nhân lực thành chỉ tiêu biên chế.
Xem
xét đồng bộ tác động của 4 nhóm yếu tố: Địa giới hành chính; quy mô, trình độ
phát triển; mức độ phân cấp, phân quyền; khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, tự
chủ và xã hội hóa. Chú trọng đặc điểm của 4 nhóm địa bàn (đô thị đặc biệt, đô
thị, đồng bằng, miền núi) và điều kiện đặc thù của từng địa phương; không bình
quân, cào bằng hoặc áp dụng máy móc theo vùng.
Đối
chiếu nhu cầu với số người hiện có, biên chế được giao, cơ cấu, chuyên môn,
năng lực, phân bổ và nguồn kinh phí.
Ưu
tiên bố trí lại, điều chuyển, đào tạo, sàng lọc, kiêm nhiệm, sử dụng chung nhân
lực và đổi mới phương thức thực hiện nhiệm vụ, bảo đảm phù hợp chức danh, năng
lực, thẩm quyền và điều kiện thực hiện nhiệm vụ.
Quản
lý chặt chẽ tổng biên chế được giao; định kỳ rà soát, điều chỉnh trên cơ sở nhiệm
vụ, nhu cầu nhân lực và kết quả sử dụng biên chế.
Bộ
Chính trị đề ra 5 nhóm nhiệm vụ trọng tâm:
(1)
Khẩn trương rà soát, điều chỉnh, cập nhật vị trí việc làm theo chức năng, nhiệm
vụ, thẩm quyền và mô hình tổ chức mới.
(2)
Thống nhất phương pháp phân tích nhiệm vụ, xác định công việc, sản phẩm, trách
nhiệm và nhu cầu nhân lực; vận dụng phù hợp với đặc thù từng khối, ngành, lĩnh
vực và nhóm địa bàn. Rà soát, đề xuất giữ nguyên, điều chỉnh, tích hợp, bãi bỏ
nhiệm vụ hoặc bổ sung vị trí việc làm theo thẩm quyền.
(3)
Hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu vị trí việc làm thống nhất trong hệ thống
chính trị trong năm 2026; bảo đảm dữ liệu đầy đủ, chính xác, có nguồn gốc, được
kiểm tra, xác nhận, có khả năng kết nối, khai thác và cập nhật, phục vụ trực tiếp
công tác cán bộ và xây dựng phương án giao biên chế giai đoạn 2027-2031.
(4)
Tập trung rà soát, bố trí, cơ cấu lại nhân lực và xây dựng phương án giao biên
chế giai đoạn 2027-2031, báo cáo Bộ Chính trị trong quý IV/2026.
(5) Gắn vị trí việc
làm với tuyển dụng, bố trí, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, sàng lọc và
phát triển đội ngũ cán bộ dựa trên sản phẩm, chất lượng, hiệu quả công việc. Từ
năm 2027, tiếp tục chuẩn hóa danh mục, bản mô tả công việc, khung năng lực, dữ
liệu và phương pháp xác định nhu cầu nhân lực; hoàn thiện công cụ cập nhật,
khai thác dữ liệu thường xuyên, phục vụ quản trị nhân lực và cải cách chính
sách tiền lương theo lộ trình.